Gỗ trắc có danh pháp khoa học là Dalbergia cochinchinensis, thuộc họ Đậu được Pierre mô tả khoa học lần đầu vào năm 1898. Trong danh pháp, tính từ *cochinchinensis* chỉ xuất xứ Nam Kỳ của xứ Đông Dương thuộc Pháp trước đây.
Cây gỗ trắc dây phân bố ven rừng hoặc ven suối. Vỏ cây trắc dây từng được người dân dùng khi ăn trầu xuất hiện tại Nam Trung Quốc và Việt Nam. Ở Việt Nam, cây mọc ven rừng trong các khu rừng ngập nước ở độ cao đến 1.500 m, phân bố tại nhiều địa phương, tập trung nhiều ở vùng núi Ngọc Linh (Kon Tum) và đèo Bảo Lộc (Lâm Đồng). Trắc dây đẹp nhất được ghi nhận tại Đắk Lắk, hiện số lượng còn rất ít.
-

- tam đa gỗ trắc dây
- Do gỗ trắc dây rất cứng, chắc và chịu được mưa nắng nên trước đây được dùng làm cột mốc biên giới, nhà sàn và cọc tiêu để cây hồ tiêu leo bám.
-

- Gỗ trắc dây
Gỗ trắc dây được nhiều người sử dụng để đóng bàn ghế, giường, tủ và sập chân quỳ. Trắc dây còn là một vị thuốc cổ truyền quý. Rễ cây được nấu uống để hỗ trợ điều trị đau đầu, gãy xương. Lá dùng chữa mụn lở chảy nước vàng. Tại một số nơi, nhựa cây còn được sử dụng trong các trường hợp xuất huyết ngoài da.
Mô tả cây gỗ trắc dây:
-

- Quan công gỗ trắc dây
Cây gỗ trắc dây mọc thành bụi lớn hoặc dạng dây leo, dài từ 10–15 m. Trắc dây sống bám vào thân cây lớn khác để phát triển, tương tự cây nhót hoặc hoa giấy. Nhánh non thường cong khúc khuỷu dạng sóng.
Lá mọc cách, thuộc dạng lá kép lông chim lẻ gồm 7–13 lá chét. Các lá chét mọc so le trên cuống lá kép, phiến lá hình xoan thuôn. Khi khô, mặt trên lá có màu hơi đỏ, mặt dưới màu xám.
Hoa tự tán mọc từ nách lá. Tràng hoa màu trắng hoặc vàng nhạt. Quả dạng đậu dài 6–8 cm, mỗi quả chứa một hạt. Hạt hình thận dẹt, kích thước khoảng 1,2 cm.
Đặc điểm gỗ trắc dây
-

- gỗ trắc dây Khánh Hòa
Gỗ trắc dây thuộc nhóm gỗ lớn, rất cứng, rất nặng và rất dai, ít cong vênh, chịu mưa nắng tốt. Sản phẩm bàn ghế, giường tủ từ loại gỗ trắc dùng lâu dài.
Thớ gỗ mịn, vân gỗ hiện lên như những đám mây. Gỗ có mùi chua nhẹ nhưng không hăng. Trong gỗ có tinh dầu nên khi đánh ráp hoặc lau chùi, bề mặt trở nên bóng hơn. Khi đốt, gỗ tỏa hương dịu và để lại tro màu trắng ngà.
Phân biệt gỗ trắc dây và gỗ trắc chính thống
Do gỗ trắc dây còn khá mới trên thị trường nên nhiều người chưa biết đến. Trong một số sản phẩm nội thất gỗ trắc, đôi khi xuất hiện bộ phận hoặc toàn bộ làm từ trắc dây.
Với người mới tìm hiểu, phân biệt trắc dây và trắc chính thống không đơn giản, nhất là khi sản phẩm đã hoàn thiện.
Với gỗ trắc chính thống khi cắt một lớp mỏng, phần gỗ bên trong có màu tươi giống màu củ cà rốt và có mùi thơm hắc. Trong khi đó, trắc dây gần như không có mùi, phần thịt gỗ mang màu nâu nhạt.
-

- Đạt Ma gỗ trắc đỏ
Gỗ trắc được chia thành 3 loại chính:
- 1. Gỗ trắc đỏ
Gỗ trắc đỏ là loại quý hiếm, số lượng rất ít. Giá bán cao và thay đổi theo tuổi cây và đường kính thân.
Thớ gỗ cứng, chắc, hương thơm dịu nhẹ và lan tỏa tự nhiên dùng để chế tác giường, tủ, bàn ghế và nhiều sản phẩm giá trị khác.
- 2. Gỗ trắc đen
Gỗ trắc đen có giá thấp hơn trắc đỏ nhưng chất lượng vẫn rất tốt. Nguồn gỗ còn ít nên giá trị ngày càng tăng.
Đặc trưng là màu nâu đen, có các đường vân đẹp mắt. Bề mặt sau khi cắt mịn và có độ bóng tự nhiên. Hương thơm giúp hạn chế côn trùng.
- 3. Gỗ trắc xanh
Gỗ trắc xanh là loại cứng nhất và thơm đậm nhất trong ba loại. Màu gỗ có sắc xanh đặc biệt, bề mặt bóng tự nhiên thường dùng cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ cầu kỳ và đồ phong thủy.
